Ở Bà Rịa – Vũng Tàu, tháng 2 đến tháng 4 là quãng phân định đàn nào thật sự khoẻ và người nuôi nào thật sự chuẩn bị.
Người lâu năm không xoay xở trong quãng này. Họ đã lo xong từ mùa trước.
Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa người lâu năm và người mới.
Thu mật chừa lại đủ. Người mới thu theo bọng đầy, người lâu năm thu theo lịch mùa và luôn chừa phần cầm cự.
Không tách đàn sát tháng 2 đến tháng 4, để tổ con không phải vào quãng khó với tay trắng.
Trồng vài vạt hoa nở lệch mùa từ đầu tháng 5 đến tháng 10. Tới lúc cần thì đã có.
Giữ lại lớp cỏ dại quanh khu tổ khi phát quang.
Ít việc hơn người ta tưởng.
| Việc | Nên | Vì sao |
|---|---|---|
| Mở thùng kiểm tra | Không | Tốn sức đàn đúng lúc không có gì bù |
| Tách đàn | Không | Cả hai bên đều không đủ sức |
| Thu mật | Không | Đó là vốn cầm cự |
| Chống kiến | Có, kỹ hơn | Mùa kiến mạnh nhất do nguồn ngoài cạn |
| Che nắng buổi chiều | Có | Giảm sức đàn phải quạt tổ |
| Quan sát cửa tổ | Có, mỗi ngày | Phát hiện sớm đàn đuối |
| Cho ăn | Chỉ khi đã đói rõ | Chữa cháy, không phải cách nuôi |
Sớm nhất là lượt ong ra vào giảm dần dù trời nắng đẹp.
Rồi tới chuyện ít con mang phấn về. Đứng nhìn năm phút không thấy con nào chân dính phấn là nguồn đã cạn.
Nặng hơn thì ong thợ kéo ấu trùng ra ngoài. Đàn tự cắt bớt miệng ăn để sống. Thấy cảnh này là phải can thiệp ngay.
Ở Bà Rịa – Vũng Tàu còn dấu hiệu riêng gắn với gió biển mạnh quanh năm làm thùng dễ xê dịch và mất nhiệt, nên nếu thấy thêm biểu hiện đó thì tình hình nặng hơn mức bình thường.
Chỉ cho ăn khi đã có dấu hiệu đói rõ, không cho ăn phòng xa.
Cho ít và đều, đặt nơi chỉ đàn mình tới được. Cho nhiều một lúc dễ sinh cướp mật giữa các tổ, lúc đó rối hơn là đói.
Ngưng ngay khi thấy ong mang phấn về lại.
Nếu năm nào cũng phải cho ăn thì vấn đề nằm ở nguồn hoa quanh nhà. Phải trồng bổ sung chứ đừng nuôi bằng cách cho ăn.
Khoảng một tháng sau những trận mưa đầu mùa là đàn hồi rất nhanh.
Đây là lúc đánh giá lại cả trại: đàn nào qua tốt, đàn nào suy nhiều. Ghi lại để năm sau biết đàn nào cần chuẩn bị kỹ hơn.
Cũng là lúc xem lại vị trí: nếu cả một cụm cùng suy nặng hơn cụm khác thì vấn đề nằm ở chỗ đặt chứ không ở đàn.
Và là lúc bắt đầu chu kỳ mới: gia cố, tách đàn, rồi thu mật cuối mùa mưa.
Đàn khoẻ và đủ dự trữ thì không, chỉ chững lại. Đàn mới tách hoặc vừa bị thu cạn mới có nguy cơ thật.
Nước đường pha loãng là cách phổ biến. Quan trọng là cho ít, đều, và ngưng sớm.
Với ong dú thì thường không đáng vì chúng quen chỗ. Trồng bổ sung tại chỗ bền hơn.
Để yên và chờ mùa mưa. Phần lớn hồi lại được nếu chúa còn.
Sau tháng 2 đến tháng 4 đầu tiên là biết. Đó cũng là lý do năm đầu nên nuôi ít.
Con đường phổ biến của người mới nuôi ở Bà Rịa – Vũng Tàu: bắt đầu từ đâu, mua mấy tổ, và năm đầu tiên thường trôi qua như thế nào.
Những lỗi lặp đi lặp lại ở người mới nuôi ong, vì sao chúng xảy ra và cách tránh, xét theo điều kiện thực tế của Bà Rịa – Vũng Tàu.
Nghề nhìn từ người đã làm nhiều năm ở Bà Rịa – Vũng Tàu: cái khó thật sự, thứ thay đổi trong cách nghĩ, và lời khuyên cho người sắp bắt đầu.
Hướng dẫn chung phần lớn viết cho vùng khác. Những chỗ mà người nuôi ở Bà Rịa – Vũng Tàu phải sửa lại và lý do đằng sau từng chỗ một.
Ai hợp với nghề nuôi ong dú và ai nên cân nhắc kỹ hơn. Câu trả lời thẳng thắn dựa trên điều kiện thực tế của vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu.
Vài việc mỗi lần chỉ mất dăm phút nhưng làm đều thì khác hẳn. Những thói quen mà người nuôi ong lâu năm ở Bà Rịa – Vũng Tàu đều giữ.
Nuôi ong dú tại Bà Rịa – Vũng Tàu: ven biển, gió mạnh quanh năm, hơi muối, nắng nhiều, mùa mưa tháng 5–10. Nguồn hoa từ vườn nhà, cây chịu mặn và rừng ngập mặn.